Huy Lữ TRẦN VĂN ĐẠT
Nguyên Chánh Chuyên gia FAO - Rome

Lúa nổi tiếng

LÚA CHIÊM VÀ LÚA TẺ TÉP:

HAI GIỐNG LÚA VIỆT NAM NỔI TIẾNG
THẾ GIỚI

 

Lúa gạo là thức ăn căn bản của 4 tỉ người hay hơn phân nửa dân tộc thế giới. Cây lúa rất dễ trồng nên có thể sinh trưởng khắp nơi trên địa cầu, ngoại trừ biển hồ, sông rạch, sa mạc và vùng băng giá. Hiện nay có độ 130.000 dòng lúa được tồn trữ và bảo quản tại Viện Lúa Gạo Quốc Tế IRRI ở Los Banos, Philippines. Trong số này, hai giống lúa có nguồn gốc Việt Nam rất nổi tiếng thế giới, đặc biệt trong giới nghiên cứu và các chuyên gia lúa gạo quốc tế, do bản chất đặc biệt của chúng. Giống lúa Chiêm, nguồn gốc Chiêm Thành, là loại lúa sớm, chịu hạn cao và không có quang cảm và chịu hạn nên đã giúp nông dân Việt Nam biết canh tác 2 vụ mỗi năm cách nay gần 2000 năm hoặc hơn. Trong khi giống lúa Tẻ Tép có khả năng kháng chống bệnh cháy lá (hay còn gọi bệnh đạo ôn) với mức độ cao ở nhiều nơi trên thế giới, cung cấp cho nhân loại nguồn gen tuyệt hão chống kháng bệnh này.

Lúa Chiêm

Ở Miền Bắc, lúa được canh tác 2 vụ mỗi năm: vụ Chiêm và vụ Mùa, trong khi Miền Trung cũng có hai hoặc ba vụ, nhưng không gọi là vụ Chiêm, mặc dù lúa Chiêm xuất phát từ miền này (Chiêm Thành xưa). Trong vụ Chiêm có nhiều giống lúa sớm với chu kỳ sinh trưởng từ 90-120 ngày như Ba Giăng, Chiêm Chanh, Cút, Di… ít bị ảnh hưởng của quang cảm, nhưng bị nhiệt cảm.

Cấy lúa vụ Chiêm

            Lúa Chiêm được trồng ở đồng bằng sông Hồng cách nay gần 2000 năm hoặc hơn. Tục ngữ có câu: “Lúa Chiêm là lúa vô nghì, cấy trước trổ trước không kỳ đợi ai”. Giống lúa này đã tạo ra cuộc Cách Mạng Xanh ở đồng bằng sông Hồng vào thời kỳ đó, với hệ thống tưới tiêu, đê đập bắt đầu bành trướng mạnh, cơ cấu sản xuất thay đổi thâm canh hơn; giúp sản xuất lương thực tăng đáng kể vào đầu Công nguyên. Theo sách Di Vật Chí của Tàu: “Lúa ở Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần, về mùa hạ và mùa đông”. Lúa mùa hạ là vụ Mùa và lúa mùa đông là vụ Chiêm. Nhiều sử sách Tàu trong thế kỷ II và III cũng ghi chép như thế. Vài nơi của tỉnh Quảng Nam và Bình Định hiện nay còn trồng giống lúa Chiêm, lúa địa phương trong tháng 5 và gặt tháng 9.

            Thật vậy, lúa Chiêm là giống lúa sớm từ 90 đến 100 ngày. Nhưng khi lúa được trồng ở Miền Bắc trong mùa lạnh (tháng 11, 12) thời gian sinh trưởng dài thêm đến 180 ngày hoặc hơn, do nhiệt độ thấp lúc đầu mùa. Cũng vậy, lúa Thần Nông 8 được trồng ở Miền Nam chỉ có 130 ngày, nhưng trồng ở Miền Bắc vụ Đông-xuân, thời gian từ gieo hạt đến thu hoạch là 180 ngày!

            Lúa Chiêm có nguồn gốc từ Chiêm Thành (hay Champa) ở miền Trung Việt Nam ngày nay. Nước này được thành lập từ năm 192 sau công nguyên, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh Ấn Độ; cho nên, có lẽ cây lúa Chiêm được du nhập từ Ấn Độ vào nước Chăm, sau đó đến châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên, theo Bùi Huy Đáp (1977, 1980), người Giao Chỉ có thể trồng lúa Chiêm vào đầu Công nguyên hoặc sớm hơn. Ông Maspéro (1980) sau khi nghiên cứu các tài tiệu, sách sử Trung Quốc cho biết người Giao Chỉ có trình độ văn hóa phát triển khá cao, biết làm 2 vụ lúa, tưới nước, nuôi gia sa súc, ăn trầu, nhuộm răng… trước khi bị nhà Hán xâm lăng hay hơn 200 năm tr CN; do đó nước Việt cổ - Âu Lạc đã có các giống lúa sớm với ít quang cảm để trồng vụ lúa Đông-xuân từ tháng 11 đến tháng 5. Trước đó, những vùng đã được khai thác của đồng bằng sông Hồng chỉ trồng vụ Mùa từ tháng 6 đến 11, vì các giống lúa truyền thống có nhiều quang cảm và việc trị thủy chưa nắm vững vào mùa mưa ngập lụt.

            Sau thế kỷ II CN, vụ Đông-xuân được trồng với giống lúa Chiêm du nhập từ xứ Chiêm Thành ra Miền Bắc, phát triển tốt hơn các giống lúa sớm địa phương và được cư dân ưa thích trồng đại trà, nên có tên vụ Chiêm từ đó.

            Sự di chuyển của lúa Chiêm không ngừng ở Việt Nam, còn tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ XI. Vào đời Tống (960-1279), vùng châu thổ sông Dương Tử, nôi trồng lúa lớn của Trung Quốc bị hạn hán và đói kém trầm trọng lâu ngày; cho nên, năm 1010, vua Tống Chân Tôn (1000-1022) ra lệnh du nhập lúa Chiêm từ phương nam để trồng thử ở tỉnh Phúc Kiến (Chang, 1985 và Greenland, 1997). Với kết quả thử nghiệm tốt, năm 1012, vua Tống ra lệnh mang 30 000 giạ lúa Chiêm từ vùng này trồng khắp thung lũng sông Dương Tử để cứu đói. Mặc dù hạt gạo Chiêm có ít amylopectin làm hạt cơm cứng hơn gạo truyền thống, không thích hợp khẩu vị người Tàu (cơm dẻo hơn), nhưng sau nhiều năm trở thành thói quen và người dân chấp nhận.

            Việc nhập nội giống lúa Chiêm đã mở ra trang sử nông nghiệp mới tại Trung Quốc, mà nhiều người còn gọi là cuộc Cách Mạng Xanh của nước này. Nhờ ưu thế giống sớm, chịu đựng hạn hán và ít quang cảm, giống lúa Chiêm giúp Trung Quốc không những khắc phục nạn đói mà còn mở ra kỷ nguyên phát triển nền nông nghiệp thâm canh, chủ yếu bành trướng thủy lợi, khai thác lúa bậc thang, luân canh, trồng lúa hai ba vụ. Sách sử và tài liệu Tàu cố tránh sự kiện du nhập giống lúa Chiêm từ Việt Nam, do dị ứng tự tôn cố hữu. Họ cho rằng vua Tống sai người đem vàng bạc, châu báu sang nước Chiêm Thành để đổi lấy lúa Chiêm; nhưng theo vài chuyên gia (Greenland, 1997) người Tống có thể du nhập lúa Chiêm qua trao đổi thương mại với Việt Nam để trồng tại tỉnh Phúc Kiến thuộc hữu ngạn sông Dương Tử, vì hai nơi này gần nhau hơn và lúa Chiêm đã được trồng ở đồng bằng sông Hồng hàng trăm năm trước đó. Ngoài ra, ở Trung Quốc lúc đó gọi giống lúa Chiêm là “lúa rẫy Annam”, hoặc “lúa 60 ngày” (từ ngày cấy đến gặt) hoặc “lúa vàng 100 ngày” (từ ngày gieo đến gặt) (Ho, 1969).

Lúa TẺ Tép

Lúa Tẻ Tép được trồng ở Việt Nam từ miền Bắc vào Nam trong nhiều thế kỷ. Vào Thế Chiến thứ 2, người Nhựt đã thu thập một số giống lúa địa phương, gồm lúa Tẻ Tép ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đem về Nhựt thử nghiệm (Trần Văn Đạt, 2002). Kết quả đánh giá các giống lúa thu thập này không có báo cáo chính thức; và lúa Tẻ Tép không được dùng trong các chương trình lai tạo giống của Nhựt, có lẽ do giống này thuộc lúa Indica làm ảnh hưởng đến chất lượng của gạo Japonica. Vào cuối thập niên 1960, các chuyên gia lúa Nhựt báo cáo Tẻ Tép có ít nhứt 3 gen kháng bệnh cháy lá (Inukai et al., 1995). Điều này có lẽ do các báo cáo về kết quả nổi bật của Tẻ Tép trong chương trình “Nương Mạ Bệnh Cháy Lá Quốc Tế” (International Blast Nursery-IBN) do FAO bắt đầu thực hiện trong 1961, sau đó chuyển giao cho IRRI. Chương trình này báo cáo về khả năng kháng bệnh cháy lá tuyệt vời của lúa Tẻ Tép trong nhiều năm liên tiếp tại nhiều nước trên thế giới. Việt Nam đã gởi một số giống tham dự Nương Mạ Quốc Tế này, trong đó có lúa Tẻ Tép và Nàng Chệt Cục (gống kháng bệnh cháy lá hạng nhì sau Tẻ Tép).

            Năm 1970, với đà bành trướng mạnh của lúa cao năng Thần Nông, các giống lúa địa phương bị thay thế và biến mất dần, Sở Lúa Gạo thuộc Bộ Nông Nghiệp Miền Nam đã phối hợp cùng các Ty Nông Nghiệp tỉnh thu thập nhiều giống lúa này để bảo tồn. Vào tháng 5 -1970, 312 giống lúa địa phương, gồm lúa Tẻ Tép, được gởi qua Viện Lúa IRRI ở Philippines để đánh giá và lưu trữ, ngoài công tác bảo tồn giống lúa ở Trung Tâm Thí Nghiệm Lúa Long Định và 7 trại thí nghiệm lúa rải rác của Miền Nam (Thừa Thiên, Phú Yên, Ninh Thuận, Long An, Cần Thơ, Long Xuyên và Bãi Sàu). Trong số giống lúa gởi qua IRRI, chỉ có 241 giống lúa hội đủ tiêu chuẩn để được bảo tồn lâu dài tại Viện này (Trần Văn Đạt, 2002). IRRI tiếp tục nghiên cứu đánh giá lúa Tẻ Tép và xác nhận giống lúa này có nhiều gen kháng bệnh cháy lá cao, rất quý giá cho các chương trình cải thiện giống thế giới (Ou, 1979).

Bệnh cháy lá (Magnaporthe grisea)

Bệnh cháy lá lúa là một bệnh nguy hiễm, rất phổ biến trên thế giới cho cả lúa Indica (vùng nhiệt đới) và Japonica (vùng ôn đới), làm thiệt hại hàng năm độ 5 tỉ đô la. Bệnh thường xuất hiện khi điều kiện khí hậu và canh tác thuận lợi (phân đạm cao, nhiệt độ ở giữa 18-20oC, ẩm độ trên 90% trong hơn một tuần lễ, giống lúa dễ nhiễm bệnh…) và dễ nhiễm từ giai đọan mạ non đến thời kỳ đâm chồi, trổ đòng và lập gié. Triệu chứng của bệnh do nấm (Magnaporthe grisea) sản xuất ra những đốm trên lá, đốt thân, gié và hạt lúa, nhưng không có trên bẹ lúa. Các đốm này có hình thoi mà hai đầu hơi nhọn, ở giữa đốm có màu xám hay trắng nhạt và bìa vành màu nâu hay nâu đỏ. Bệnh nặng có nhiều đốm cháy có kích thước đến vài cm trên lá lúa và làm biến mất diệp lục tố. Vì thế, các chuyên gia lai tạo giống quốc tế tìm các gen kháng bệnh này. Lúa Tẻ Tép đã được nghiên cứu và hiện nay xác nhận có 4 gen chống kháng bệnh cháy lá (Pi-kh, Pi-1, Pi-ta và Pi(t)) (Inukai et al., 1995), là một nhân tuyển tốt cung cấp nguồn gen đó. Thế giới còn có các giống lúa khác kháng bệnh cháy lá, như Moroberekan của Phi Châu; Tadukan, Norin 22 của Nhựt; Pusur, Co1 của Ấn Độ; H4, H5 của Sri Lanka; Dawn của Mỹ v.v.; nhưng đa số các giống lúa này chỉ có khả năng chống kháng bệnh tại một vài nơi hoặc vài năm mà thôi. Trong khi đó, lúa Tẻ Tép có khả năng kháng bệnh rộng rãi hơn ở các lục địa trong nhiều năm liên tiếp. Đó là ưu điểm vượt trội của giống lúa Việt Nam:
         …

        Một loài lúa vô danh nơi bản xứ

            Nhưng tuổi tên lừng lẫy khắp năm châu!

            Lúa xanh màu, mộc mạc, sống đồng sâu

            Từng tắm gội nước trời vùng đất thép

            Từng tôi luyện mang tên loài Tẻ Tép

            Vươn vùng lên đề kháng lực đa phương

            Trải muôn đời, gieo phấn rải hoa hương

            Dù thân lá ốm mòn tư phong thẳng

            Dù đất xám khô cằn chồi chắc rắn

            Vốn trời sinh kháng chống đạo ôn vàng

            Mối hiễm nguy luôn đột phá mùa màng

            Làm hao mất hàng vạn ngàn tấn thóc!

            Chẳng buông tha nương mạ non vừa mọc

            Bởi lòng tham mưu diệt hóa giống nòi!

            Chỉ... lúa Tép năng lực kháng tuyệt vời

            Đứng hàng đầu, gen di truyền chống kháng!

            Như truyền thống người Việt Nam ngời sáng!

Trần Văn Đạt, Ph. D.